Báo VNNET có bài “Bức tranh kinh tế của hai tháng đầu năm 2026 dường như có cả hai sắc màu vừa tươi vừa trầm”
Tựa đề này rất đúng. Kinh tế VN 2026 về tổng thể vẫn tăng trưởng, nhưng không ổn định đều, mà có một nhóm hưởng lợi vượt lên, và một nhóm tiếp tục chống đở khó khăn, thanh lọc mạnh ….
1. Công nghiệp đã phân hóa nhiều địa phương nhờ hạ tầng giao thông, về lâu dài góp phần tăng kinh tế dịch vụ tiêu dùng ở các địa phương kém phát triển do có việc làm và thu nhập
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,4% so với cùng kỳ, cao hơn năm trước cho thấy công nghiệp vẫn đang tăng, không bị ảnh hưởng suy giảm từ thuế quan Mỹ. Điều đáng chú ý là mức tăng ở cả 34 tỉnh, thay vì tập trung vào các thủ phủ khu công nghiệp. Điều này là do nhiều tỉnh đã có khu công nghiệp nhờ hệ thống hạ tầng giao thông thuận lợi như Ngệ An, Hà Tỉnh thu hút thay vì chỉ ở vùng Tứ giác Bắc Giang – Bắc Ninh; hoặc các tỉnh miền tây nam bộ đã có thêm các khu công nghiệp thay vì chỉ tập trung bình Dương, Đồng Nai…..Về lâu dài góp phần tăng kinh tế dịch vụ tiêu dùng ở các địa phương kém phát triển do có việc làm và thu nhập, giúp kinh tế VN phát triển đều hơn ở các khu vực, và giảm áp lực BĐS ở các đô thị lớn.
2. FDI tiếp tục là động lực phát triển kinh tế VN do xu thế chung của chuyển dịch SX từ TQ
Hai tháng đầu năm nay, vốn FDI giải ngân đạt 3,21 tỷ USD, tăng 8,8%, là mức cao nhất trong vòng 5 năm. Phần lớn đổ vào các chế biến, chế tạo chiếm hơn 80% tổng vốn FDI thực hiện. Điều này giúp phát triển công nghiệp hóa các địa phương, gắn với phát triển hạ tầng giao thông. Xu thế này có thể tăng mạnh từ sau sự kiện chiến tranh vùng vịnh, cho thấy VN là điểm đến SX an toàn.
3. Đầu tư công là động lực tăng GDP 2026, nhưng không phải là động lực chính
2 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư công thực hiện đạt 83,5 nghìn tỷ đồng bằng 9,4% kế hoạch năm và tăng hơn 11% so với cùng kỳ. Nền kinh tế đang kỳ vọng vào vai trò “dẫn dắt” của đầu tư công trong hạ tầng và xây dựng. Tuy nhiên, trong năm 2025, là năm đầu tư công đẩy mạnh, nhưng chỉ chiếm 5% GDP, và tính thêm giá trị tác động khoảng 1,8% thì cũng chỉ là 7%/GDP. Do vậy, để GDP tăng 10% trong năm 2026, thì động lực chính vẫn từ FDI và kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra, tăng mạnh đầu tư công có thể gây áp lực lạm phát, một yếu tố cần kìm giử trong bối cảnh kinh tế nội địa và thu nhập người lao động còn khó khăn.
4. Xuất khẩu đã có dấu hiệu tác động bở thuế quan Mỹ, nhập siêu 3 tỷ usd.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 155,7 tỷ USD, tăng hơn 22% so với cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 76,36 tỷ USD, thể hiện xuất khẩu vẫn đang phát triển. Tuy nhiên cán cân thương mại đã chuyển sang nhập siêu gần 3 tỷ USD từ xuất siêu của năm trước; cho thấy tác động của thuế quan Mỹ trong việc hạnh chế nhập siêu vào nước này từ VN (trên 100 tỷ usd năm 2025). Sắp tới chính sách XNK của VN – Mỹ sẽ tiếp tục điều chỉnh theo hướng giảm xuất siêu vào Mỹ, qua đó áp lực tỷ giá sẽ tăng, hoạt động xuất khẩu sẽ cơ cấu dần.
Trước mắt có thể gây khó khăn một thòi gian cho VN.
5. Kinh tế nội địa vẫn còn khó.
Trong hai tháng đầu năm, có gần 35.500 doanh nghiệp thành lập mới, vốn đăng ký bình quân của mỗi doanh nghiệp chỉ khoảng 8,8 tỷ đồng, giảm hơn 20% so cùng kỳ. Chiều ngược lại. có 58.500 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ( 10.600 doanh chờ giải thể, và 7.900 doanh nghiệp đã giải thể)
Tổng mức bán lẻ tăng 7,9% nhưng con số này thấp hơn mức 9,3% của cùng kỳ năm trước.
CPI bình quân hai tháng tăng 2,94% vẫn nằm trong vùng kiểm soát. Tuy nhiên, lạm phát cơ bản tăng 3,47% cao hơn CPI chung, Với CPI cơ bản tăng mạnh sẽ gây khó khăn lớn cho người lao động, có thu nhập thấp, đa số chi tiêu vào nhóm hàng cơn bản. CPI chung tăng thấp cho thới giới trung bình khá và trung lưu đã giảm chi tiêu các mặt hàng, dịch vụ trung cao cấp, thể hiện nhóm tiêu dùng quan trọng này đang lo ngại về khó khăn kinh tế.
Tổng hợp các chỉ tiêu và nhận định này cho thấy sự khó khăn của kinh tế và doanh nghiệp SXKD nội địa vẫn tiếp tục khó khăn như năm 2025, và dự kiến sẽ kéo dài khó khăn suốt năm 2026 do thu nhập – việc làm và sức mua còn thấp.
NHẬN XÉT CHUNG
Nền kinh tế VN vẫn có nhiều động lực phát triển từ đầu tư hạ tầng tạo nền tảng cho kinh tế nhiều năm sau; và FDI giúp tạo tiến trình công nghiệp hóa, việc làm – thu nhập và nguồn thu quốc gia. Tuy nhiên nhóm doanh nghiệp SME đang đứng trước khó khăn lớn của thanh lọc và tái cấu trúc trong bối cảnh kinh tế mới, điều này khiến kinh tế tiêu dùng nội địa sẽ tiếp tục gặp khó khăn trong năm 2026.
Bối cảnh chiến tranh vùng Vịnh trước mắt sẽ gây khó khăn cho kinh tế VN từ giá dầu tăng và những rủi ro kinh doanh liên đới. Nhưng trung hạn sẽ tốt cho VN như là một điểm đến SX an toàn cho các tập đoàn lớn trên thế giới. Nếu VN tận dụng được nguồn lực này để phát triển doanh nghiệp nội địa, thì kinh tế VN sẽ tốt hơn trong năm 2027.
Tóm lại, năm 2026 kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng nhưng dự báo GDP khoảng 7– 8,5% do bị tác động bởi chiến tranh vùng vịnh trong 6 tháng đầu năm. Việc tăng trưởng dựa trên 3 động lực xuất khẩu, đầu tư công hạ tầng và tiêu dùng nội địa phục hồi
- Nghành Công nghiệp chế biến – xuất khẩu Tiếp tục là động lực chính của kinh tế. Dự báo tăng trưởng 9 –11%
- Ngành Đầu tư công – xây dựng – hạ tầng hưởng lợi lớn năm 2026 với mức tăng trưởng trên 10%
- Ngành Dịch vụ – bán lẻ – tiêu dùng phục hồi tốt hơn năm 2025 do Bán lẻ, logistics, vận tải và du lịch đang phục hồi mạnh. Dự kiến tăng khoảng 9% – 10%
- Ngành Ngân hàng – tài chính tăng trưởng trung bình do nhà nước đang kiểm soát an toàn tín dụng được kiểm soát để tránh rủi ro tài sản.
- Ngành Bất động sản sẽ khó khăn. Các cty BĐS phân hóa, và phục hồi chậm
- Ngành Nông nghiệp Ổn định tăng trưởng trung bình. Lĩnh vực SX nông nghiệp tăng trưởng khoảng 3–4%/năm. Trong khi đó lĩnh vực chế biến xuất khẩu sẽ có mức tăng trên 10%. Chế biến thủy sản và nông sản vẫn giữ vai trò quan trọng.
TS. Đinh Thế Hiển

